Stenolechia gemmella – w

Stenolechia gemmella là một loài bướm đêm thuộc họ Gelechiidae. Loài này có ở hầu hết châu Âu.

Sải cánh dài 10–11 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 7 đến tháng 9, và nó được biết đến nhờ tập tính ở các kẽ thân cây trong trạng thái nghỉ.[2]

Ấu trùng ăn các loài Quercus.[3]


Glyphipterix semilunaris – w

Glyphipterix semilunaris
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Lớp (class) Insecta
Bộ (ordo) Lepidoptera
Liên họ (superfamilia) Yponomeutoidea
Họ (familia) Glyphipterigidae
Phân họ (subfamilia) Glyphipteriginae
Chi (genus) Glyphipterix
Loài (species) G. semilunaris
Danh pháp hai phần
Glyphipterix semilunaris
Wollaston, 1879[1]

Glyphipterix semilunaris là một loài bướm đêm thuộc họ Glyphipterigidae. Nó được tìm thấy ở Saint Helena.

  1. ^ Afro Moths
  • Dữ liệu liên quan tới Glyphipterix semilunaris tại Wikispecies


Agdistis criocephala – w

Agdistis criocephala
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Lớp (class) Insecta
Bộ (ordo) Lepidoptera
Họ (familia) Pterophoridae
Chi (genus) Agdistis
Loài (species) A. criocephala
Danh pháp hai phần
Agdistis criocephala
Meyrick, 1909[1]

Agdistis criocephala là một loài bướm đêm thuộc họ Pterophoridae. Nó được tìm thấy ở Nam Phi và Namibia.[2]

  1. ^ Afro Moths
  2. ^ New Species và Records of Plume Moths of the Chi Agdistis Hübner, 1825 (Lepidoptera: Pterophoridae, Agdistinae) từ Southern Africa
  • Dữ liệu liên quan tới Agdistis criocephala tại Wikispecies


Megalocentor echthrus – w

Megalocentor echthrus
Tình trạng bảo tồn
Chưa được đánh giá (IUCN 3.1)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Siluriformes
Họ (familia) Trichomycteridae
Phân họ (subfamilia) Stegophilinae
Chi (genus) Megalocentor
de Pinna & Britski, 1991
Loài (species) M. echthrus
Danh pháp hai phần
Megalocentor echthrus
de Pinna & Britski, 1991

Megalocentor echthrus là một loài cá da trơn trong họ Trichomycteridae, và loài duy nhất trong chi Megalocentor.[1] Con trưởng thành dài khoảng 8.8 centimetres (3.5 in) SL and có nguồn gốc từ Amazon và Orinoco basins.[2]

  1. ^ Ferraris, Carl J., Jr. (2007). “Checklist of catfishes, recent and fossil (Osteichthyes: Siluriformes), and catalogue of siluriform primary types” (PDF). Zootaxa 1418: 1–628. 
  2. ^ Thông tin “Megalocentor echthrus” trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng July năm 2007.
  • Dữ liệu liên quan tới Megalocentor echthrus tại Wikispecies


Baguio – w

Thành phố Baguio
Ciudad ti Baguio
Lungsod ng Baguio
Baguio City montage.png
Hiệu kỳ của Thành phố Baguio
Hiệu kỳ
Tên hiệu: Summer Capital of the Philippines,
City of Pines
Benguet Province map locating Baguio City
Benguet Province map locating Baguio City
Thành phố Baguio trên bản đồ Thế giới

Thành phố Baguio

Thành phố Baguio

Tọa độ: 16°25′B 120°36′Đ / 16,417°B 120,6°Đ / 16.417; 120.600
Quốc gia Philippines
Vùng Đặc khu hành chính Cordillera
Tỉnh Benguet
Barangay 129
Khu vực bầu cử lập pháp 1
Incorporated (city) September 1, 1909
Chính quyền
 • Congressman Mauricio Domogan (Elect)
 • Mayor Reinaldo Bautista, Jr. (Elect)
 • Vice Mayor Daniel Fariñas (Elect)
Diện tích
 • Tổng cộng 57,5 km2 (222 mi2)
Dân số (2000)
 • Tổng cộng 252,386
 • Mật độ 5.151/km2 (13,340/mi2)
Múi giờ PST (UTC+8)
2600
Mã điện thoại 74
Thành phố kết nghĩa Taebaek, Vallejo, Hanyū, Quận Honolulu, Cuzco sửa dữ liệu
Languages Ilocano, Tagalog, Kankana-ey, Ibaloi, Tiếng Anh, Tiếng Nhật, and Chinese.
Trang web http://www.baguio.gov.ph

Thành phố Baguio (Ilokano: Ciudad ti Baguio; Filipino: Lungsod ng Baguio) là một thành phố đô thị hóa cao hạng 1 ở bắc Luzon ở Philippines. Đô thị Baguio do người Mỹ lập năm 1900 tại ngôi làng Ibaloi có tên là Kafagway. Quốc hội Philippines đã lập thành phố này vào ngày 1 tháng 9 năm 1909. Theo điều tra dân số năm 2000, thành phố này có dân số 252.386 người và 52.302 hộ.

16°25′B 120°36′Đ / 16,417°B 120,6°Đ / 16.417; 120.600

Silvino Lobos, Bắc Samar – w

Silvino Lobos là một đô thị hạng 5 ở tỉnh Bắc Samar, Philippines. Theo điều tra dân số năm 2000, đô thị này có dân số 12.645 người trong 2.009 hộ.

Silvino Lobos được chia thành 26 barangay.

  • Balud
  • Cababayogan
  • Cabunga-an
  • Cagda-o
  • Caghilot
  • Camanggaran
  • Camaya-an
  • Deit De Suba
  • Deit De Turag
  • Gebonawan
  • Gebolwangan
  • Gecbo-an
  • Giguimitan
  • Genagasan
  • Geparayan De Turag
  • Gusaran
  • Imelda
  • Montalban
  • Suba (Pob.)
  • San Isidro
  • Senonogan de Tubang
  • Tobgon
  • Victory
  • Poblacion I
  • Poblacion II
  • San Antonio
  • Mã địa lý chuẩn Philipin
  • Thông tin điều tra dân số năm 2000 của Philipin

Bản mẫu:Northern Samar

Tọa độ: 12°18′B 124°50′Đ / 12,3°B 124,833°Đ / 12.300; 124.833


Pudtol, Apayao – w

Bản đồ của Apayao với vị trí của Pudtol

Pudtol là một đô thị cấp bốn ở tỉnh Apayao, Philippines. Theo điều tra dân số năm 2015, đô thị này có dân số 14.925 người trong.

Pudtol, về mặt hành chính, được chia thành 22 khu phố (barangay).

  • Aga
  • Alem
  • Cabatacan
  • Cacalaggan
  • Capannikian
  • Lower Maton
  • Malibang
  • Mataguisi
  • Poblacion
  • San Antonio (Pugo)
  • Swan
  • Upper Maton
  • Amado
  • Aurora
  • Doña Loreta
  • Emilia
  • Imelda
  • Lt. Bilag
  • Lydia
  • San Jose
  • San Luis
  • San Mariano
  • Mã địa lý chuẩn Philipin
  • 2000 Thông tin điều tra dân số Philipin

Bản mẫu:Apayao

Tọa độ: 18°09′B 121°17′Đ / 18,15°B 121,283°Đ / 18.150; 121.283


Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik – w

Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik, còn được biết đến như là MSK hay MSK-64, là một thang đo cường độ địa chấn diện rộng được sử dụng để đánh giá mức độ khốc liệt của sự rung động mặt đất trên cơ sở các tác động đã quan sát và ghi nhận trong khu vực xảy ra động đất.

Thang này ban đầu được Sergei Medvedev (Liên Xô), Wilhelm Sponheuer (Đông Đức) và Vít Kárník (Tiệp Khắc) đề xuất năm 1964. Nó dựa trên các kinh nghiệm có sẵn vào đầu thập niên 1960 từ việc áp dụng thang Mercalli sửa đổi và phiên bản năm 1953 của thang Medvedev, còn gọi là thang GEOFIAN.

Với các sửa đổi nhỏ vào giữa thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, thang MSK đã được áp dụng rộng rãi tại châu Âu và Liên Xô. Vào đầu thập niên 1990, Ủy ban Địa chấn học châu Âu (ESC) đã sử dụng nhiều nguyên lý đã lập thành công thức trong MSK trong việc phát triển thang vĩ chấn châu Âu (EMS), hiện nay là tiêu chuẩn de facto để lượng giá cường độ địa chấn tại các quốc gia châu Âu. MSK-64 vẫn còn được sử dụng tại Ấn Độ, Israel, Nga và tại các quốc gia thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).

Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik là hơi giống như thang Mercalli sửa đổi (MM) sử dụng tại Hoa Kỳ. Thang MSK có 12 cấp cường độ, được biểu diễn bằng các số La Mã (để ngăn ngừa việc sử dụng các số thập phân):

I. Không cảm nhận được Không cảm thấy, chỉ được các địa chấn kế ghi nhận. Không có tác động lên các vật thể. Không có thiệt hại đối với nhà cửa.
II. Khó cảm nhận được Chỉ những cá nhân nào đang nghỉ ngơi mới cảm nhận được. Không có tác động lên các vật thể. Không có thiệt hại đối với nhà cửa.
III. Yếu Một ít người ở trong nhà cảm nhận được. Các đồ vật treo đu đưa nhẹ. Không có thiệt hại đối với nhà cửa.
IV. Quan sát được trên diện rộng Nhiều người ở trong nhà cảm nhận được và chỉ rất ít người ở ngoài nhà cảm nhận được. Một ít người nhận thấy rõ. Rung động vừa phải. Những người quan sát cảm thấy sự rung hay đu đưa nhẹ của nhà cửa, phòng ốc, giường, bàn, ghế v.v. Đồ sứ, cốc chén kêu loảng xoảng; cửa sổ và cửa ra vào kêu cọt kẹt. Các đồ vật treo đu đưa. Các loại đồ nội thất nhẹ rung động thấy được trong một số trường hợp. Không có thiệt hại đối với nhà cửa.
V. Khá mạnh Phần lớn những người trong nhà cảm nhận được, ít người bên ngoài nhà cảm nhận được. Một số người sợ hãi và chạy ra khỏi nhà. Nhiều người đang ngủ tỉnh dậy. Những người quan sát cảm thấy sự rung động hay đu đưa mạnh của toàn bộ nhà cửa, phòng ốc hay đồ nội thất. Các đồ vật treo đu đưa đáng kể. Đồ sứ và thủy tinh kêu loảng xoảng. Cửa sổ và cửa ra vào mở ra hay khép lại. Trong một số trường hợp các khung cửa sổ bị phá vỡ. Các chất lỏng dao động và có thể trào ra khỏi các đồ chứa đầy. Các con vật nuôi trong nhà có thể cảm thấy khó chịu. Thiệt hại nhẹ đối với một ít công trình xây dựng có kết cấu kém.
VI. Mạnh Phần lớn những người trong nhà và nhiều người bên ngoài nhà cảm nhận được. Một số người mất thăng bằng. Nhiều người sợ hãi và chạy ra khỏi nhà. Các đồ vật nhỏ có thể rơi và đồ nọi thất có thể bị dịch chuyển. Bát đĩa cốc chén có thể đổ vỡ. Các con vật nuôi trong chuồng có thể sợ hãi. Thiệt hại thấy được đối với các kết cấu vôi vữa, các vết nứt trong lớp vữa trát. Các vết nứt cô lập trên mặt đất.
VII. Rất mạnh Phần lớn mọi người đều sợ hãi và cố chạy ra khỏi nhà. Đồ nội thất dịch chuyển và có thể bị lật nhào. Các đồ vật rơi từ trên giá hay trần xuống. Nước bắn tung tóe ra khỏi đồ chứa. Thiệt hại nghiêm trọng đối với nhà cửa cũ, các ống khói xây bằng vôi vữa sụp đổ. Có các vụ lở đất nhỏ.
VIII. Gây thiệt hại Nhiều người khó đứng vững, ngay cả khi ở bên ngoài nhà. Đồ nội thất có thể bị lật nhào. Có thể nhìn thấy các con sóng chạy trên đất rất mềm. Các công trình xây dựng cũ bị sụp đổ một phần hay chịu thiệt hại đáng kể. Các vết nứt lớn và các khe nứt toác ra, đá lở xuống.
IX. Phá hủy Hoảng loạn chung. Người cũng có thể bị quật ngã xuống đất. Nhìn thấy các con sóng trên đất mềm. Các công trình không đủ chuẩn sụp đổ. Thiệt hại thực sự đối với các công trình xây dựng có kết cấu tốt. Các đường ống ngầm gãy. Mặt đất nứt toác, lở đất trên diện rộng.
X. Hủy diệt Các công trình nề bị phá hủy, cơ sở hạ tầng bị phá hỏng. Lở đất ồ ạt. Các khu vực chứa và tích nước có thể bị sập, gây ra ngập lụt của khu vực xung quanh và hình thành nên các khu vực chứa nước mới.
XI. Thảm họa Phần lớn các công trình và kết cấu xây dựng sụp đổ. Xáo trộn đất trên diện rộng, sóng thần.
XII. Cực kỳ thảm họa Tất cả các kết cấu trên mặt đất và ngầm dưới đất bị phá hủy hoàn toàn. Cảnh quan nói chung bị thay đổi, sông suối bị thay đổi dòng chảy, sóng thần.

Engystomops pustulosus – w

Ếch Túngara (Engystomops pustulosus; tên cũ là Physalaemus pustulosus) là một loài ếch trong họ Leiuperidae. Tên gọi của nó trong tiếng Tây Ban Nha là sapito de pustulas (“pustulated toadlet”).
Nó được tìm thấy ở Belize, Colombia, Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras, México, Nicaragua, Panama, Trinidad và Tobago, Venezuela, và có thể Guyana.
Các môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, xavan khô, xavan ẩm, đồng cỏ khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới vùng đất thấp, đồng cỏ nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới vùng ngập nước hoặc lụt theo mùa, đầm nước ngọt, đầm nước ngọt có nước theo mùa, vùng đồng cỏ, các khu rừng trước đây bị suy thoái nặng nề, ao, và kênh đào và mương rãnh.

  • Santos-Barrera, G., Solís, F., Ibáñez, R., Wilson, L.D., Savage, J., Lee, J., Chaves, G., Señaris, C., Acosta-Galvis, A. & Hardy, J. 2004. Physalaemus pustulosus. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2007.
  • Dalgetty L. and Kennedy MW (2010). Building a home from foam—túngara frog foam nest architecture and three-phase construction process. Biol Lett. 2010 Jan 27.


Kỳ giông đỏ – w

Kỳ giông đỏ (Pseudotriton ruber) là một loài kỳ giông trong họ Plethodontidae.
Nó là loài đặc hữu của Hoa Kỳ. Its skin is orange/red in colour with random black spots.

Các môi trường sống tự nhiên của chúng là rừng ôn đới, rạch nhỏ, hồ, rừng, vùng cây bụi ôn đới, sông, sông khô luân phiên và suối.
Nó bị đe dọa do mất môi trường sống. Kỳ giông đỏ ăn côn trùng, nhện và các loài kỳ giông nhỏ.

Phương tiện liên quan tới Pseudotriton ruber tại Wikimedia Commons